LIÊN KẾT CƠ QUAN - BAN NGÀNH

  07/04/2020 20:01        

SỬ DỤNG INTERNET VÀ VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM LÝ XÃ HỘI CỦA TRẺ TRONG ĐỘ TUỔI ĐẾN TRƯỜNG

Công nghệ rất phát triển ảnh hưởng đến truyền thông và công nghệ thông tin. Sự phát triển này đã đẩy nhanh các dịch vụ sản xuất, phân phối và sử dụng của thông tin. Sự đổi mới quan trọng nhất trong phát triển công nghệ thông tin là việc sử dụng internet. Hiện tại, theo World Bank (2015) có 3 tỉ người sử dụng internet trên thế giới, chiếm khoảng 43,9% dân số thế giới [1]. Năm 2016 có hơn 3,4 tỉ người sử dụng, chiếm 46,1% dân số [2]. Theo số liệu của Bộ thông tin và Truyền thông, tới năm 2010 Việt Nam có gần 27 triệu người sử dụng internet, chiếm 30,06% dân số [3], năm 2016 có khoảng 49 triệu người sử dụng chiếm 52% dân số [2]. Số liệu trên cho thấy, tỉ lệ sử dụng internet đã tăng lên ở Việt Nam và trên toàn thế giới ở mọi lứa tuổi, đặc biệt giữa trẻ em và thanh thiếu niên là những đối tượng dễ dàng tiếp cận với công nghệ.

http://sv1.upsieutoc.com/2017/08/16/image001.png

Số lượng người sử dụng internet ở một số quốc gia [2]

Internet có ảnh hưởng cả tiêu cực và tích cực đến đứa trẻ. Nó cung cấp những thông tin nền tảng cho đứa trẻ khám phá thế giới, học tập và vui chơi. Khi internet được sử dụng một cách đúng mực, nó giúp những trẻ thụ động trở nên năng động hơn trong hoạt động xã hội, cung cấp truy cập dữ liệu dễ dàng, nhanh chóng và cho phép quản lý thời gian hiệu quả. Internet là một cách tốt để giao tiếp xã hội khi trẻ em và thanh thiếu niên tìm cơ hội để kết bạn mới để nói về bất cứ điều gì và duy trì quan hệ xã hội qua internet [4]. Bên cạnh đó, ảnh hưởng tiêu cực khi sử dụng internet quá mức và mất kiểm soát có thể dẫn đến nghiện internet và gây ra các vấn đề sức khỏe thể chất, xã hội và tâm lý: gây ra sự thất bại trong học tập, bị cô lập trong các hoạt động xã hội và những ảnh hưởng tiêu cực khác, ví dụ như lo âu, trầm cảm và cô đơn [5]. Sử dụng máy tính và internet nhiều cũng gây lo âu vì tính bạo lực trong các trò chơi, dễ truy cập nội dung khiêu dâm và nội dung gây tranh cãi, xâm phạm tính riêng tư và nghiện internet [6]. Theo một nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ, cứ 5 trẻ em sử dụng internet thì có một trẻ có nguy cơ về vấn đề tâm lý xã hội và đặc biệt nguy cơ cao hơn ở các nhóm trẻ nam giới, trẻ có cha mẹ không làm việc làm, sử dụng internet từ 5 năm trở lên, sử dụng internet trong 3 giờ mỗi ngày [1]. Bên cạnh đó, việc sử dụng internet cũng chiếm rất nhiều thời gian của người sử dụng. Theo một nghiên cứu tại Đài Loan số giờ trung bình của những người nghiện internet dành thời gian để sử dụng internet là 21,2 giờ/tuần [5].

Vì những ảnh hưởng, trên vai trò của một gia đình không chỉ giới hạn trong việc cung cấp máy tính và internet cho con cái, họ cũng cần có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng các biện pháp phòng ngừa cho con cái họ. Họ nên thiết lập các quy tắc cho con về các hành vi trực tuyến nhất định như giới hạn thời gian sử dụng internet, nói về tình dục, gửi thông tin cá nhân cho ai đó gặp trực tuyến, giáo dục trẻ về những nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến các hoạt động đó và cũng nên sử dụng phần mềm hạn chế khi cần thiết [6]hoặc cài đặt mật khẩu trên máy tính [1].

Người viết: ThS. Đỗ Phương Chi

 

Tài liệu tham khảo:

1. Isik B., and Alkaya S.A. (2017), Internet use and psychosocial health of school aged children, Psychiatry Research, 225, 204-208.

2. Kết nối công nghệ và ngôn ngữ (2017), Việt Nam có hơn 49 triệu người dùng internet năm 2016. https://www.dammio.com/2017/03/29/viet-nam-co-hon-49-trieu-nguoi-dung-internet-nam-2016/.

3. Trung tâm internet Việt Nam (2016), Internet khu vực & thế giới. Thống kê internet. http://www.thongkeinternet.vn/jsp/thegioi/dna_tab.jsp.

4. Akbulut Y. (2013), Developmental implications of computer and Internet use among children and adolescents, Trak. Univ. J. Educ., 3, 53-68.

5. Yang S.C., Tung C.D. (2007), Comparison of Internet addicts and non-addicts in Taiwanese high school, Computers in Human Behavior, 23, 79-96.

6. Cankayaa S., and Odabası H.F. (2009), Parental controls on children’s computer and Internet use, Procedia Social and Behavioral Sciences, 1, 1105-1109.

Chia sẻ

 
Thông báo
Video